Bệnh dạ dày

Bệnh học loét dạ dày tá tràng

Đau kiểu quặn, đau thường xẩy ra khi đói. Cảm giác đau đỡ đi khi có thức ăn hoặc uống thuốc ức chế acid dạ dày. Đó là dấu hiệu của loét dạ dày tá tràng.

 >>> Viêm loét dạ dày tá tràng là gì?

50 Bệnh học loét dạ dày tá tràng

Hình ảnh dạ dày bình thường và loét dạ dày tá tràng. (Ảnh minh họa)

Trên thế giới, trung bình cứ 10 người, có 1 người bị bệnh loét dạ dày tá tràng. Tỷ lệ này thay đổi theo địa lý và có sự thay đổi theo thời gian. Bệnh lý loét dạ dày tá tràng xảy ra khi các yếu tố tấn công (acid, men pepsin, vi khuẩn Hp) phát triển mạnh lên trong khi các yếu tố bảo vệ (niêm mạc dạ dày, hệ đệm bicarbonate) bị suy yếu dẫn tới tổn thương niêm mạc dạ dày, tổn thương dần dần tạo thành các vết loét.

Một số yếu tố liên quan tới việc phát sinh bệnh

  • Di truyền: sinh ra trong gia đình có người bị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng sẽ có nguy cơ bị bệnh cao hơn so với người khác. Người có nhóm máu O dễ loét dạ dày tá tràng hơn người mang các nhóm máu khác.
  • Stress: Căng thẳng làm giảm dòng máu tới dạ dày, dễ dẫn tới loét.
  • Rối loạn nhu động dạ dày ruột: không điều hòa tốt nhu động dạ dày ruột làm ứ đọng thức ăn trong dạ dày cũng tạo thuận lợi cho các yếu tố tấn công như Hp phát triển.
  • Chế độ ăn uống: Các loại đồ ăn, thức uống kích thích như thuốc lá,  cà phê là những chất gây tiết acid; rượu gây tổn thương niêm mạc dạ dày do làm đông vón lớp protein trên màng nhầy.
  • Thuốc: Aspirin, Thuốc kháng viêm nonsteroid (NSAIDs), Corticoid làm tăng cường khả năng hình thành vết loét và làm giảm khả năng liền loét.
  • Vi khuẩn Helicobacte pylori (Hp): Là nguyên nhân gây là viêm loét dạ dày tá tràng mạn tính và làm cho bệnh khó điều trị hơn.

Triệu chứng

Đau thượng vị

  • Đau từng đợt kéo dài 2 – 8 tuần cách nhau vài tháng đến vài năm. Đau gia tăng theo mùa nhất là vào mùa đông. Tuy nhiên, nếu đã có loét thì việc đau có thể diễn ra bất kỳ lúc nào.
  • Đau liên hệ đến bữa ăn, sau ăn 30 phút – 2 giờ; thường đau nhiều sau bữa ăn trưa và tối hơn là bữa ăn sáng.
  • Đau quặn, đau bỏng rát.
  • Có thể đau ngoài thượng vị ở vị trí ổ loét.

51 Bệnh học loét dạ dày tá tràng

Đau thượng vị là một trong những biểu hiện đầu tiên khi bị loét dạ dày tá tràng. (Ảnh minh họa)

Loét tá tràng

  • Xảy ra ở người lớn với mọi lứa tuổi và không phân biệt giới tính.
  • Triệu chứng: Đau rõ hơn loét dạ dày, vì ở đây không có viêm phối hợp. Các đợt bộc phát rất rõ ràng. Giữa các kì đau, thường không có triệu chứng nào cả. Đau xuất hiện 2 – 4 giờ sau khi ăn tạo thành nhịp ba kỳ, hoặc đau vào đêm khuya 1 – 2 giờ sáng. Đau đói và đau kiểu quặn thắt nhiều hơn là đau kiểu nóng ran. Đau ở thượng vị lan ra sau lưng về phía bên phải (1/3 trường hợp). Cũng có 10% trường hợp không đau, được phát hiện qua nội soi hoặc do biến chứng và 10% trường hợp loét lành sẹo nhưng vẫn còn đau.

Biến chứng

Thường gặp là chảy máu, thủng, xơ teo gây hẹp, thủng bít hay tự do, loét sâu kèm viêm quanh tạng, đặt biệt loét dạ dày lâu ngày có thể dẫn tới ung thư hóa.

Chảy máu

  • Thường gặp nhất nhưng khó đánh giá tần số chính xác. Khoảng 15 – 20% bệnh nhân loét có một hoặc nhiều lần chảy máu; loét tá tràng thường chảy máu (17%) so với dạ dày (12%), người già chảy máu nhiều hơn người trẻ. Biến chứng chảy máu thường xảy ra trong đợt loét tiến triển nhưng cũng có thể là dấu hiệu đầu tiên.

Thủng

  • Loét ăn sâu vào thành dạ dày hay tá tràng có thể gây thủng. Đây là biến chứng thứ nhì sau chảy máu (6%), đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Loét mặt trước hoặc bờ cong nhỏ thì thủng vào khoang phúc mạc lớn, loét mặt sau thì thủng vào cơ quan kế cận hoặc hậu cung mạc nối.
  • Triệu chứng thủng dạ dày: Thường khởi đầu bằng cơn đau dữ dội kiểu dao đâm. Chụp phim bụng không sửa soạn hoặc siêu âm có liềm hơi dưới cơ hoành nhất là bên phải.
  • Loét xuyên thấu dính vào cơ quan kế cận, thường là tụy, mạc nối nhỏ, đường mật, gan, mạc nối lớn, mạc treo đại tràng, đại tràng ngang thường gặp là loét mặt sau hoặc loét bờ cong lớn. Các loét này thường đau dữ dội ít đáp ứng với điều trị, loét xuyên vào tụy thường đau ra sau lưng hoặc biểu hiện viêm tụy cấp, loét thủng vào đường mật chụp đường mật hoặc siêu âm có hơi trong đường mật hoặc baryte vào đường mật. Nếu rò dạ dày – đại tràng gây đi chảy phân sống và kém hấp thu, cần điều trị phẫu thuật.

Hẹp môn vị

  • Thường gặp nhất khi ổ loét nằm gần môn vị. Gây ra do loét dạ dày hoặc tá tràng hoăc phản ứng co thắt môn vị trong loét dạ dày nằm gần môn vị, hẹp có thể do viêm phù nề môn vị.
  • Triệu chứng: Nặng bụng sau ăn. Mữa ra thức ăn củ > 24 giờ. Dấu óc ách dạ dày lúc đói và dấu Bouveret. Gầy và dấu mất nước.

Ung thư hóa

  • Tỉ lệ loét ung thư hóa thấp 5-10%, và thời gian loét kéo dài >10 năm.

Điều trị

Điều trị nội khoa

  • Chế độ ăn uống và nghỉ ngơi: Nghỉ ngơi cả thể xác và nhất là tinh thần trong giai đoạn có đợt đau loét. Trong giai loét tiến triển cần ăn chế độ ăn lỏng, tránh các thức ăn kích thích cay nóng như tiêu ớt. Không sử dụng bia rượu, thuốc lá vì làm chậm lành sẹo và dể gây loét tái phát. Thực tế hiện nay đã chứng minh thức ăn ít quan trọng chỉ cần ăn đều tránh nhịn đói gây tăng tiết acid là được.
  • Ăn phụ ban đêm hoặc trước lúc đi ngủ gây tiết acide ban đêm, nên cần chống chỉ định.

Thuốc điều trị loét được chia làm các nhóm sau

Thuốc kháng acid

  • Thường kết hợp hydroxyde nhôm và magnesi để giảm tác dụng táo bón của nhôm và gây đi chảy của magné.

Thuốc chống tiết acid

  • Là các thuốc làm giảm tiết acid dịch vị qua nhiều cơ chế khác nhau do kháng thụ thể H2, kháng choline, kháng gastrine và kháng bơm proton của tế bào viền thành dạ dày.

Thuốc kháng Gastrin

  • Proglumide (Milide) là thuốc đối kháng gastrin. Thuốc làm giảm tiết acide khi tiêm gastrin, nhưng không làm giảm khi tiêm histamin, được chỉ định trong điều trị loét có tăng gastrin máu và nhất là trong u gastrinome.

52 Bệnh học loét dạ dày tá tràng

Có  nhiều nhóm thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng. (Ảnh minh họa)

Thuốc bảo vệ niêm mạc

  • Carbénoxolone: là dẫn xuất tổng hợp của cam thảo, kinh nghiệm dân gian xưa đã dùng để điều trị loét dạ dày. Nó làm tăng sản xuất nhầy và kéo dài tuổi thọ của tế bào niêm mạc, tác dụng kép này giống như PGE2, có thể do làm chậm thoái hóa prostaglandine. Ngoài ra carbénoxolone làm ức chế họat động của pepsine, nó cũng có tính chất kháng viêm.
  • Carbénoxolone làm nhanh sự lành sẹo loét dạ dày và nhất là nó chứa trong nang tan chậm cũng hiệu quả trong loét tá tràng. Tuy nhiên xử dụng của nó còn hạn chế do tác dụng phụ giống như aldosterone: giữ muối và phù, hạ Kali máu, cao huyết áp. Do đó khi dùng cần theo dõi trọng lượng, huyết áp và điện giải đồ.
  • Bismuth: Trước đây các muối bismuth natri hấp thu nhiều gây ra bệnh não do bismuth nên không còn được dùng trong điều trị.
  • Sucralfate: Là thuốc phối hợp giữa sulfate de sucrose và một muối nhôm. Cũng như sous nitrate de bismuth trong dung dịch acide nó gắn vào bề mặt ổ loét mang điện tích (-) kết hợp với điện tích (+) của thuốc, làm thành một lớp đệm, giúp chống lại sự phân tán ngược của ion H+.
  • Prostaglandine E2 (Cytotec, Minocytol) có nhiều cơ chế tác dụng: ức chế tiết acide, kích thích tiết nhầy, tăng tiết bicarbonate và làm tăng tưới máu cho lớp hạ niêm mạc dạ dày. Viên 200(; liều 400-600(. Tác dụng phu gây đi chảy

Thuốc diệt Hp

  • Nhóm (lactamine như Pénicilline, Ampicilline, Amoxicilline, các Céphalosporines.
  • Nhóm cycline: Tétracycline, Doxycycline.
  • Nhóm macrolides: Erythromycine, Roxithromycine, Azithromycine, Clarithromycine.
  • Nhóm Quinolone và nhóm imidazoles: Métronidazole, Tinidazole, Secnidazole…
  • Nhóm Bisthmus: Như trymo, denol, Pepxobismol.

Có thể bạn chưa biết: Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng ăn gì?

Theo Viangp.vn

Có thể bạn quan tâm: ,