Dược liệu trị nôn, gây nôn

Cây nhót tây

Còn gọi là phì phà, tỳ bà diệp

Tên khoa học: Eriobotrya japonica Lindl.

Họ: Hoa hồng Rosaceae.

cay nhot tay Cây nhót tây

Đặc điểm thực vật:

Là một cây cao 6-8m. Lá mọc so le, hình mác, nhọn, dai, phía trên có răng cưa, mặt dưới có nhiều lông, màu xám hay vàng nhạt. Hoa rất nhiều, gần như không có cuống, mọc thành chum, có lông màu hung đỏ. Quả thịt, hơi hình cầu, hơi có lông, chin có màu vàng, dài 3-4cm, đỉnh quả có hình mắt quanh mép mang đài tồn tại. Thịt dày, có 4 hạch đơn, hơi dày, mỗi hạch mang 1-2 hạt không phôi nhũ. Mùa quả chín vào tháng 4-5.

Cây trồng và mọc hoang nhiều nơi ở Việt Nam, nhiều nhất ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội. Nguồn gốc của cây ở Trung Quốc và Nhật Bản.

Lá hái vào tháng 4-5. Cần lau sạch lông, thái nhỏ, phơi hay sấy khô mà dùng. Nhân hạt Tỳ bà gọi là Tì bà nhân.

Thành phần hóa học:

Trong lá có chất saponin, vitamin B, 2,8mg trong 1g lá. Theo Arrhur và Hui (J.Chem.Soc., 1945 và C.A.. 1955) trong Tỳ bà diệp có axit ursolic C2048O3, axit oleanic và caryophylin.

Trong hạt có amyđalin và HCN.

Công dụng:

Chữa ho, nôn mửa, kích thích tiêu hóa, phụ nữ có thai nôn mửa. Nước sắc dùng ngoài để rửa vết thương. Liều dùng: Ngày uống 6-12g dưới dạng thuốc sắc, có thể dùng tới 15-20g.

Theo tài liệu cổ, Tì bà diệp có vị đắng, tính bình, vào 2 kinh phế và vị. Có tác dụng thanh phế hòa vị, giáng khí hóa đờm. Dùng chữa bệnh do nhiệt mà sinh ho, nhiều đờm, nôn khan, miệng khát.