Dược liệu nhuận tràng

Đào

2 Đào

Tên khoa học: Prunus persica Stokes (Amygdalus persica L.)

Họ: Hoa hồng Rosaceae

Đặc điểm thực vật:

Cây nhỏ, cao 3-4m, da thân nhẵn, trên thân có chất nhầy đùn ra gọi là nhựa Đào. Lá đơn, mọc so le, cuống ngắn, hình mác. Phiến lá dài 5-8cm, rộng 1,2-1,5cm, mép lá có răng cưa. Vò có mùi hạnh nhân. Hoa xuất hiện trước lá, màu hồng nhạt, 5 cánh, 8 nhị vàng. Quả hạnh hình cầu, đầu nhọn có một ngấn lõm vào, chạy dọc theo quả. Vỏ ngoài có long mịn, quả chin có đám đỏ.

Nguồn gốc từ Ba Tư, hiện được trồng ở nhiều nước như Liên Xô cũ, Trung Quốc, Lào, Việt Nam. Mọc cả ở rừng núi và đồng bằng. Ở Việt Nam trồng nhiều ở Lào Cai (Sapa), Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang. Hạt đào thu hái vào tháng 7, lấy hạch về đập lấy hạt phơi hay sấy khô gọi là đào nhân.

Thành phần hóa học

Quả Đào (phần thịt) chứa chất màu carotenoit, lycopene, cryptoxantin và zeaxantin. 15% chất đường, các axit hữu cơ, vitamin C, axit clorogenic, rất nhiều tinh dầu.

Hạt Đào chứa hơn 50% dầu, tỷ trọng 0,9114-0,9325, chỉ số xà phòng 190. Chỉ số iốt 72-99. Còn có 3,5% amygdalin, ít tinh dầu (0,4-0,7%), men emunsin.

Công dụng

Đào nhân: Chữa ho, điều kinh, cầm máu sau khi đẻ. Đào nhân dùng thay thế chất ecgotin làm co tử cung, tác dụng trên mạch máu của tử cung làm đông máu.

Lá Đào: nấu nước dùng tắm ghẻ, lởi, ngứa. Lá Đào giã nát, thêm nước, cất lấy nước cất lá Đào như lối chế nước cất hạt Mơ sẽ được nước cất lá đào có cùng một công dụng và liều dùng như nước cất hạt Mơ.

Chú ý : Trong lá Đào có chất HCN độc, khi dùng phải hết sức cẩn thận; liều vừa dùng, dù dùng ngoài hay trong cũng vậy.

Hoa Đào: làm thuốc thông tiểu tiện và tẩy, dùng chữa thủy chũng và bí đại tiện. Nhưng chỉ dùng hoa đào bảo quản trong vòng 1 năm. Để lâu mất tác dụng.