Dược liệu kích thích tiêu hóa

Địa liền

221 Địa liền

Còn gọi là Sơn nại, Tam nại, Thiền liền, Sa khương.

Tên khoa học: Kaempferia galangal L.,.

Họ: Gừng Zingiberaceae.

Sơn nại là thân rễ thái mỏng phơi khô của cây Địa liền.

Tên Địa liền vì lá mọc sát mặt đất.

Đặc điểm thực vật

Là một loại cỏ nhỏ, sống lâu năm, có thân rễ hình củ nhỏ, bám vào nhau, hình trứng. Lá 2 hoặc 3 mọc sát mặt đất, hình trứng, phía cuống hẹp lại thành một cuống, mặt trên xanh lục và nhẵn, mặt dưới có lông mịn, có hai mặt đều có những điểm nhỏ, dài rộng gần bằng nhau. Cụm hoa mọc ở giữa, không cuống, gồm 8-10 hoa màu trắng với những điểm tím ở giữa. Cây quanh năm xanh tốt. Mùa hoa tháng 8 tháng 9.

Cây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi trên cả nước. Cây còn mọc ở Campuchia, Trung Quốc, Malaixia, Ấn Độ.

Từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, người ta đào củ về, cần chọn những cây trên 2 năm, rửa sạch đất cát thái thành miếng mỏng, xông diêm sinh một ngày rồi phơi khô.

Thành phần hóa học

Trong Địa liền có tinh dầu, trong tinh dầu thành phần chủ yếu là bocneola metyl, metyl p.cumaric axit etyl este, xinamic axit etyl este, pentadecan, xinamic andehyt và ximeola.

Công dụng

Theo tài liệu cổ Địa liền vị cay, tính ôn, vào hai kinh tỳ và vị. Có tác dụng ôn trung tán hàn, trừ thấp, tịch uế. Chữa ngực bụng lạnh đau, đau răng. Thường dùng làm thuốc giúp tiêu hóa, làm cho ăn ngon, chóng tiêu và làm thuốc xông. Ngâm rượu dùng xoa bóp chữa tê phù, tê thấp nhức đầu, đau nhức.

Còn dùng trong kỹ nghệ cất tinh dầu chế nước hoa và bảo vệ quần áo chống nhậy.