Dược liệu chữa viêm loét dạ dày

Gừng

Gung Gừng

Tên gọi khác: Khương, Sinh khương, Can khương.

Tên khoa học: Zingiber officimale Rosc.

Họ: Gừng, Zingiberaceae.

Đặc điểm thực vật

Cây nhỏ, sống lâu năm, cao 0,6m-1m. Thân rễ. Lá mọc so le, không cuống, có bẹ, hình mác, mặt bóng nhẵn, vò có mùi thơm đặc trưng. Trục hoa xuất phát từ gốc,cm, cụm hoa thành bông mọc sít nhau, màu xanh, mép cánh hoa màu tím, nhị cũng tím.

Ngoài 2 loại trên dùng trong đông y, trên thị trường quốc tế còn có 2 loại gừng gọi là Gừng xám và Gừng trắng. Gừng xám là loại củ còn để nguyên vỏ hay cạo vỏ ở những chỗ phẳng, rồi phơi khô. Gừng trắng là loại gừng đã được cạo lớp vỏ ngoài có chứa nhiều nhựa dầu, rồi mới phơi khô.

Thành phần hóa học

Trong Gừng có 2-3% tinh dầu. Ngoài ra còn có chất nhựa dầu (5%), chất béo (3,7%), tinh bột và các chất cay như zingeron, zingerola và shogaola.

Tinh dầu Gừng có tỷ trọng 0,87%, tả tuyền, năng suất quay cực -25 o ở -5 o C, độ sôi 155-300 o . Trong tinh dầu có α camphen, β phelamdren, một cacbua: zingiberen C­ 15 H 24 , một rượu sesquitecpen, một ít xitrala bocneola và geraniola.

Do những công thức trên, chúng ta hiểu được tại sao khi ngâm Gừng lâu với một dung dịch 5l KOH, thì sẽ mất hết tính chất cay.

Công dụng

Gừng là một vị thuốc kích thích tiêu hóa, tiêu tích, hóa thực, chống viêm giảm đau dùng trong những trường hợp kém ăn, ăn uống không tiêu, viêm loét dạ dày tá tràng, nôn mửa đi ỉa, cảm mạo, phong hàn làm thuốc ra mồ hôi, chữa ho mất tiếng.

Sinh khương vị cay, tính hơi ôn, vào ba kinh phế, tỳ và vị. Có tác dụng phát biểu tán hàn, ôn trung, làm hết nôn, tiêu đờm, hành thủy giải độc. Dùng chữa ngoại cảm, biểu chứng, bụng trướng đầy, nôn mửa, giải độc bán hạ, nam tinh, cua cá, đờm ẩm sinh ho.

Can khương vị cay, tính ôn, bào khương (can khương bào chế rồi) vị cay đắng tính đại nhiệt. Vào sau kinh tâm, phế, tỳ, vị, thận và đại tràng. Có tác dụng ôn trung tán hàn, hồi dương thông mạch, dùng chữa thổ tả, bụng đau, chân tay lạnh, mạch nhỏ, hàn ẩm xuyễn ho, phong hàn thấp tỳ.