Dược liệu kích thích tiêu hóa

Lô hội

lh2 Lô hội

Tên khoa học: Aloe sp.

Họ: Hành tỏi Liliaceae

Đặc điểm thực vật:

Lô hội có nhiều loài khác nhau, ở đây chỉ giới thiệu một loài có ở nước ta và một số loài thông dụng.

Cây ngắn, to thô. Lá không cuống, mọc thành vành rất sít nhau, dày mẫm, hình 3 cạnh, mép dầy, mép có răng cưa thô cứng và thưa dài 30-50cm, rộng 5-10cm, dày 1-2 cm, ở phía cuống. Cụm hoa dài chừng 1m, mọc thành chum dài mang hoa màu vàng xanh lục nhạt lúc đầu mọc đứng, sau rũ xuống, dài 3-4cm. Quả nang, hình trứng thuôn lúc đầu xanh sau nâu và dai.

Lô hội được trồng ở nước ta (cả đông y và tây y) chủ yếu là nhập giống của nước ngoài. Địa lý chủ yếu của Lô hội là đông châu Phi (từ nam chí bắc đều có), Ấn Độ, Châu Mỹ.

Tại nước ta, cây Lô hội mọc hoang ở bờ biển những tỉnh Ninh Thuận. Ở miền Bắc được trồng làm cảnh nhưng ít hơn.

Thành phần hóa học:

Tùy theo nguồn gốc, Lô hội có thành phần hóa học khác nhau, nhưng căn bản có những chất sau đây: Tinh dầu màu vàng, Nhựa, Aloin gồm những antraglucozit có tinh thể, vị đắng có tác dụng tẩy. Tỷ lệ Aloin thay đổi tùy theo nguồn gốc Lô hội.

Công dụng:

Lô hội là một vị thuốc được dùng cả trong đông y và tây y.

Theo tài liệu cổ Lô hội có vị đắng tính hàn, vào 4 kinh can, tỳ, vị và đại tràng. Có tác dụng sát trùng, thông tiện, thanh nhiệt, lương can. Dùng chữa trẻ con cam tích, kinh giản, táo bón. Người tỳ vị hư nhược, sinh tả và phụ nữ có thai không dùng được. Hiện nay có liều nhỏ dùng giúp tiêu hóa, ăn uống không tiêu.