Dược liệu trị nôn, gây nôn

Náng hoa trắng

Còn gọi là cây Lá náng, Văn thù lan, Hoa náng, Chuối nước, Thập bát học sĩ.

Tên khoa học:

Crinum asiaticum L. (Crinum toxicarium Roxb.).

Họ:

Thủy tiên Amaryllidaceae.

nang hoa trang Náng hoa trắng

Đặc điểm thực vật

Là một loại cỏ, có hành hình đầu, đường kính đạt tới 10cm hay hơn, thuôn dài tới 12cm hay hơn. Lá hình bản dài, nhiều, mọc ở gốc, phiến lá hình mác dài, mặt trên hõm thành rãnh, mép nguyên. Cụm hoa hình tán, gồm 6-12 hoa trắng, to, về chiều có mùi thơm dễ chịu. Tán hoa được mang trên một cán, dẹt, đường kính bằng ngón tay, có mo bao bọc dài 8-10cm. Nhị thò ra ngoài. Quả gần hình cầu, chỉ có một ngăn và một hạt.

Cây Náng mọc hoang ở những nơi ẩm ướt trên khắp nước ta. Trồng bằng dò, màu hoa trắng đẹp, thơm về chiều và đêm.

Người ta dùng lá và củ để làm thuốc. Thường dùng tươi. Hái về dùng ngay, không phải chế biến gì cả.

Thành phần hóa học

Trong cây Náng hoa trắng có chất ancaloit gọi là lycorin độ chảy 275-280oC. Ngoài ra còn những ancaloit có cấu tạo tương tự.

Công dụng

Tại Ấn Độ, người ta hay dùng củ ép lấy nước pha loãng để uống thuốc gây nôn; không gây tẩy và không gây đau đớn. Với liều nhỏ, nó gây buồn nôn và ra mồ hôi.

Nhân dân thường dùng lá cây Náng hơ nóng đắp và bóp những nơi sai gân, bong gân khi đã. Còn dùng bóp khi bị tê thấp, nhức mỏi. Không thấy dùng để uống.

Nhân dân tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc) cũng dùng lá hơ nóng đắp và bóp vào những nơi sưng đau như ở ta, có khi người ta còn sắc với nước để lấy nước sắc rửa trĩ ngoại, có kết quả tốt.