Dược liệu trị nôn, gây nôn

Nhục đậu khấu

Còn gọi là Nhục quả, Ngọc quả, Muscade, Noix de muscade.

Tên khoa học: Myristica fragrans Houtt.

Họ:

Nhục đậu khấu Myristicaceae.

Cây Nhục đậu khấu cho ta các vị thuốc sau đây:

-         Nhục đậu khấu (Sêmn Myristicae) là nhân phơi hay sấy khô của cây nhục đậu khấu.

-         Ngọc quả hoa còn gọi là Nhục đậu khấu y (Arillus Myristicae hay Macis) là áo của hạt Nhục đậu khấu phơi khô hay sấy khô.

nhuc dau khau Nhục đậu khấu

Đặc điểm thực vật

Là một cây to, cao 8-10m. Toàn thân nhẵn. Lá mọc so le, xanh tươi quanh năm, dai, phiến lá hình mác rộng, mép nguyên, cuống lá dài 7-12mm. Hoa khác gốc mọc thành xim ở kẽ lá, có dáng tán. Màu hoa vàng trắng. Quả hạch, hình cầu hay quả lê màu vàng, khi chín nở theo chiều dọc thành 2 mảnh, trong có một hạt có vỏ dày cứng, bao bọc bởi một áo hạt bị rách, màu hồng.

Trồng nhiều ở miền Nam Việt Nam và Campuchia. Còn mọc ở Indonexia, Malaixia, tây Ấn Độ và đã di thực vào tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc.

Trồng được 7 năm thì bắt đầu thu hoạch. Mỗi năm có thể thu hoạch 2 lần, một lần vào tháng 11-12, một lần vào tháng 4-6.

Thành phần hóa học

Nhục đậu khấu có chứa tinh bột, chất protit, chừng 40% chất béo gọi là bơ Nhục đậu khấu, 8-15% tinh dầu và 3-4% chất nhựa.

Nhục đậu khấu y hay ngọc quả hoa chứa 8% tinh dầu, chất nhựa và chất pectin. Tinh dầu không màu hay đỏ nhạt, rất lỏng, quay phải, mùi vị nồng giống như Nhục đậu khấu.

Bơ Nhục đậu khấu chứa chừng 70-75% myristin. Ngoài ra còn có 10-20% olein, 1% butyrin, axit loric, 1-2% axit panmitic, 7-8% stearin và 1% axit linoleic.

Công dụng:

Nhục đậu khấu là một vị thuốc dùng để kích thích tiêu hóa, làm thuốc kích thích chung trong các trường hợp kém ăn, sốt rét.

Bơ Nhục đậu khấu dùng xoa bóp ngoài chữa tê thấp, đu người.

Ngọc quả hoa dùng như nhục đậu khấu.