Dược liệu kích thích tiêu hóa

Riềng

Tên khoa học: Alpinia officinarum Hance.

Họ: Gừng Zingiberaceae.

Cu Rieng Riềng

Đặc điểm thực vật

Một loại cây nhỏ, cao chừng 0,7-1,2m. Thân rễ mọc bò ngang, dài, hình trụ, đường kính 12-18mm, màu đỏ nâu, phủ nhiều vẩy, chia thành nhiều đốt không đều nhau, màu trắng nhạt. Lá không có cuống, có bẹ, hình mác dài, nhẵn. Cụm hoa hình chùy, mọc ở đầu cành, có lông măng dài chừng 10cm. Hoa rất sít nhau, mặt trong màu trắng, mép hơi mỏng, kèm hai lá bắc hình mo, một có màu xanh, một có màu trắng. Tràng hình ống, có 3 thùy tù, hình thon, thùy giữa chỉ hơi lớn hơn các thùy khác, cánh môi hình trứn, màu trắng, có vạch màu đỏ sim. Quả hình cầu có lông. Hạt có áo hạt.

Cây mọc hoang và được trồng ở khắp nước ta để làm gia vị và làm thuốc. Có thể thu hái quanh năm, thường đào vào mùa thu đông hoặc sang xuân trước vụ mưa phùn để dễ phơi, sấy.

Loại trồng thì đào vào tháng 7-10. Đào về, rửa sạch đất, cắt bỏ lá và rễ con, vẩy lá rồi cắt thành từng đoạn 4-6cm, phơi khô là được.

Thành phần hóa học

Trong Riềng có từ 0,5-1% tinh dầu, lỏng sền sệt, màu vàng xanh, có mũi long não, trong đó chủ yếu có xineola và metylxinnamat.

Ngoài tinh dầu, trong Riềng còn có các chất sau đây:

-         Một chất dầu, có vị cay gọi là galangola.
-         Ba chất có tinh thể, không có vị gì, đều là dẫn xuất của flavon. Số lượng ước 0,1%. Ba chất đó là galangin, alpinin va kaempferit.

Công dụng

Theo tài liệu cổ Cao lương khương vị cay, tính ôn, vào 2 kinh tỳ và vị. Có tác dụng ôn trung tán hàn, hết đau, tiêu thực.

Được dùng trong cả đông và tây y làm thuốc kích thích tiêu hóa, ăn ngon cơm, chữa đầy hơi, đau bụng, đau dạ dày, sốt rét, sốt nóng, đi lỏng, trúng hàn, nôn mửa.

Có khi người ta dùng nhau để chữa đau răng.