Dược liệu trị nôn, gây nôn

Thảo quả

Còn gọi là đò ho, tò ho, mac hâu, may mac hâu (Thái).

Tên khoa học: Amomum tsao-ko Crev.et Lem.

Họ: Gừng Zingiberaceae.

thao qua Thảo quả

Đặc điểm thực vật

Là một loài cỏ sống lâu năm, cao 2,5-3m, thân rễ mọc ngang, to thô, có đốt, đường kính chừng 2,5-4cm, giữa có màu trắng nhạt, phía ngoài màu hồng, thơm, mẫm, rất chóng thành xơ. Lá mọc so le, có lá có cuống ngắn, có lá không cuống, bẹ lá có khía dọc, phiến lá dài 0,6-0,7m, rộng tới 0,2m, nhẵn, mặt trên màu xanh sẫm, mặt dưới hơi mờ, mép nguyên. Cụm hoa thành bông mọc từ gốc, hoa màu đỏ nhạt. Quả từ 8-17 trên mỗi bông, khi chín có màu đỏ nâu, khi còn tươi mặt bóng nhẵn, vỏ ngoài dày 5mm. Trong quả chia thành 3 ngăn, mỗi ngăn có chừng 7 hạt có áo hạt hình tháp ép vào nhau, rất thơm.

Thành phần hóa học

Trong Thảo quả có 1-1,5% tinh dầu. Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm ngọt, vị nóng cay dễ chịu.

Nghiên cứu cho thấy trong tinh dầu Thảo quả có các thành phần chủ yếu: 1-8 cineol (30,61%), trans-2 undecanal (17,33%), citral B (geranial) (10,57%), -tepineol (4,34%).

Công dụng

Thảo quả là một vị thuốc, đồng thời là một gia vị. Thảo quả thường dùng để thêm vào một số bánh kẹo, đặc biệt là loại kẹo chè lam.

Trong thuốc, Thảo quả chỉ mới dùng trong phạm vị nhân dân. Trong các sách cổ, người ta cho Thảo quả có vị cay, chát, tính ôn và không độc, vào 2 kinh tỳ và vị, có năng lực táo thấp, khứ hàn, trừ đờm, chữa sốt rét, tiêu thực, hóa tích dùng làm thuốc kiện tỳ, giải độc, chữa đau bụng, nôn mửa, hôi mồm.