Dược liệu kích thích tiêu hóa

Thị

Còn gọi là Thị muộn.

Tên khoa học : Diospyros decandra Lour.

Họ : Thị Ebenaceae.

thi Thị

Đặc điểm thực vật

Là một cây gỗ, cao tới 5-6m. lá mọc so le, phiến lá hình trứng thuôn, dai, cuống dài 6-9mm, có phủ lông. Hoa đa tính, họp thành xim, màu trắng. Đài hợp ở gốc 4 răng, nhị 8-14. Nhụy có 2 vòi. Quả tròn hơi dẹt, có 6-8 ngăn, khi chín màu vàng, mang đài tồn tại. Hạt cứng, dẹt, dài 3cm, phôi sừng. Mùi thơm hay khó chịu tùy theo người thích hay không thích.

Được trồng ở khắp nơi ở Việt Nam, chủ yếu lấy quả ăn. Quả hái về vào các tháng 8-9. Ngoài ra người ta còn dùng lá tươi hay phơi khô làm thuốc. Không có chế biến gì đặc biệt.

Thành phần hóa học

Vỏ quả chứa một ít tinh dầu mùi gần giống mùi ete amyl valerianic.

Thịt quả Thị: có 86,2% nước, 0,16% chất béo, 0,67% chất protit, 12% gluxit, 0,33% tanin, 0,47% xeluloza, 0,5% tro.

Lá chưa có tài liệu nghiên cứu.

Công dụng

Lá Thị phơi khô, sắc với nước mỗi ngày uống, đồng thời lấy bông tẩm nước sắc này đắp vào rốn để chữa bệnh không trung tiện được sau khi mổ.

Trong nhân dân, thường dùng lá Thị phơi khô cho hút để gây đánh trung tiện, lá tươi giã đắp vào mụn nhọt cho chóng tan.

Thịt quả Thị ăn nhiều vào lúc đói có thể trị được giun kim.

Vỏ quả Thị phơi khô đốt thành than dùng bôi lên nơi phồng do con giời leo gây ra. Có người đốt vỏ quả thị thành than, trộn với than của cuống chiếu (chiếu trải giường nằm) và Đinh hương tán nhỏ thổi vào các lỗ rò ở hậu môn.