Dược liệu trị nôn, gây nôn

Thường sơn

Còn gọi là Hoàng thường sơn, Thục tất, Áp niệu thảo, Kê niệu thảo.

Tên khoa học: Dichroa febrifuga Lour.

Họ: Thường sơn Saxifragaceae.

thuong son Thường sơn

Đặc điểm thực vật

Là một loại cây nhỡ cao 1-2m, thân rỗng, dễ gãy, vỏ ngoài nhẵn màu tím, Lá mọc đối, hình mác hau đầu nhọn, méo có răng cưa mặt trên xanh, mặt dưới tím đỏ, gân tím đỏ, không có lông hoặc hơi có lông. Hoa nhỏ màu xanh lam, một ngăn, hạt nhiều nhỏ hình lê, có mạng ở mặt, dài không đầy 1mm.

Cây mọc hoang rất nhiều ở các tỉnh miền núi nước ta. Mùa thu vào các tháng 8-10 người ta đào rễ về, rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con, phơi hay sấy khô. Nếu dùng lá, hái quanh năm nhưng tốt nhất lúc cây sắp và đang ra hoa. Hái về rửa sạch, phơi khô. Có thể dùng tươi.

Thành phần hóa học

Gồm các chất sau đây:

-         Dicroin –α (Dichroin) C­10H21(19)ON3 độ chảy 136oC.

-         Dicroin β C16H(19)21O3N3 độ chảy 145oC.

-         Dicroin γ C16H21(19)O3N3 độ chảy 160oC.

Công dụng:

Theo tài liệu cổ Thường sơn vị đắng, tính hàn, có độc, thục tất vị cay, tính bình có độc. Vào 3 kinh phế, tâm và can. Có tác dụng thổ đờm, triệt ngược, thanh nhiệt hành thủy. Dùng chữa sốt rét mới bị hay đã lâu ngày, lão đờm tích ẩm, dẫn tới đờm đi lên sinh nôn mửa.

Thường sơn trong đông y dùng để chữa bệnh sốt rét, sốt thường. Tuy nhiên nhược điểm của thường sơn là gây nôn. Những ancaloit lấy ra cũng gây nôn.

Thường khi dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác ít nôn hơn.