Dược liệu kích thích tiêu hóa

Tía tô

Còn gọi là Tử tô, Tử tô tử, Tô ngạnh.

Tên khoa học : Perilla ocymoides L. [ Perilla nankinensis (Lour.) Decne, Perilla frutescens (L.) breit]

Họ : Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).

- Tử tô tử là quả chín phơi hay sấy khô của cây Tía tô.

- Tử tô là cành non có mang lá của cây Tía tô phơi hay sấy khô.

- Tử tô diệp là lá phơi hay sấy khô.

- Tô ngạnh là cành non hoặc cành già phơi hay sấy khô.

tia to Tía tô

Đặc điểm thực vật

Là một loại cỏ mọc hằng năm, cao chừng 0,5-1,5m, thân thẳng đứng có lông. Lá mọc đối, hình trứng, đầu nhọn, méo có răng cưa to, phiến lá dài 4-12cm, rộng 2,5-10cm, màu tím hoặc xanh tím, trên có lông màu tím. Cuống lá ngắn, hoa nhỏ màu trắng hoặc tím nhạt, mọc thành chùm ở kẽ lá hay đầu cành, chùm dài 6-20cm. quả là hạch nhỏ, hình cầu, đường kính 1mm, màu nâu nhạt, có mạng.

Được trồng ở khắp nơi ở Việt Nam, để lấy lá ăn làm gia vị và làm thuôc. Trồng bằng hạt. Thời kỳ gieo hạt tốt nhất lá sau lập xuân vào tháng 1-2 dương lịch. Những cây để lấy hạt làm giống hay làm thuốc thì không hái lá. Cây Tía tô để lấy hạt, sau khi hạt đã già, cắt cả cành có hạt mang về phơi hay sấy khô trong mát (tránh nắng to, hay sấy ở nhiệt độ cao hoạt chất sẽ giảm), rũ lấy hạt, bỏ cành và tạp chất.

Lá hái về, cũng phải phơi khô trong mát hay sấy nhẹ độ để giữ lấy hương vị.

Thành phần hóa học

Trong toàn cây Tía tô chứa 0,5% tinh dầu. Trong tinh dầu thành phần chủ yếu là perilla-andehyt, limonene, α pinen và dihydrocumin. Chất perilla andehyt có mùi thơm đặc biệt của Tía tô, chất perilla andehyt anti-oxim ngọt gấp 2.000 lần đường, khó tan trong nước, đun nóng sẽ phân giải, có độc, không làm chất điều vị được, nhưng có người dùng làm ngọt thuốc lá.

Chất màu trong lá Tía tô là do este của chất xyanin clorit. Ngoài các chất trên trong Tía tô còn chứa adenine và acginin.

Trong hạt tía tô có 45-50% chất dầu lỏng, màu vàng, mùi vị của dầu lanh (huilede lin), thuộc loại dầu khô, chỉ số iốt vào loại cao nhất 206, chỉ số xà phòng 189,6, tỷ trọng 0,93.

Công dụng

Theo tài liệu cổ, tía tô có vị cay, tính ôn, vào 2 kinh phế và tỳ. Có tác dụng phát tán phong hàn, lý khí khoan hung, giải uât, hóa đờm, an thai, giải độc của cua cá. Cành có tác dụng lý khí. Dùng chữa ngoại cảm phong hàn, nôn mửa, động thai, ngộ độc cua cá.

Thông thường lá tía tô có tác dụng làm cho ra mồ hôi, chữa ho, giúp tiêu hóa, giảm đau, giải độc, chữa cảm mạo, ngộ độc nôn mửa, đau bụng do ăn cua cá.

Cành tía tô có tác dụng chữa ho, trừ đờm, hen suyễn, tê thấp.

Dầu hạt tía tô, ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản dùng trong kỹ nghệ vẽ trên đồ sứ, thực phẩm.