Bệnh dạ dày

Ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày (UTDD) là một bệnh lý ác tính tổn thương dạ dày, bệnh tiến triển nhanh, khó chẩn đoán sớm, tiên lượng nặng, chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu.

48 Ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là một căn bệnh cực kỳ nguy hiểm. (Ảnh minh họa)

Số lượng ca mắc bệnh ung thư dạ dày đứng hàng thứ 3 trong các bệnh ung thư phổ biến và chiếm 40% ung thư hệ tiêu hoá.

  • Bệnh đặc trưng với tỷ lệ tử vong rất cao: Nhật Bản 66.7%, Áo 40%, Phần lan 35,7%…
  • Ở Việt Nam: Năm 1994 một thống kê bệnh ung thư ở Hà Nội trong 5 năm (1988 – 1992) cho biết ung thư tiêu hoá chiếm 31% tổng số ung thư ở cả hai giới trong đó có 14,5% là UTDD.
  • Tuổi thường gặp: 50-60, các tuổi khác ít gặp hơn.
  • Giới: nam gặp nhiều hơn nữ (tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ 2/1,5).

Một số yếu tố liên quan tới ung thư dạ dày

  • Vi khuẩn H.pylori: đây là nguyên nhân gây ung thư dạ dày hàng đầu do tổ chức y tế thế giới khuyến cáo từ năm 1994.
  • Người có nhóm máu A có tỷ lệ UTDD cao hơn các nhóm máu khác.
  • Người viêm DD mạn tính thể teo nhất là có thể dị sản ruột và viêm dạ dày mạn tính của bệnh thiếu máu Biermer (6-12%), các bệnh nhân này dễ bị ung thư dạ dày.
  • Bệnh Polyp to >2cm ở dạ dày.
  • Di truyền: gia đình có người bị ung thư dạ dày sẽ có nguy cơ bị ung thư dạ dày cao gấp 4 lần so với những người khác.
  • Các yếu tố khác: địa dư, hoàn cảnh sống, chế độ ăn (xào, rán, nướng chả, hun khói dự trữ…). Vai trò của Nitrosamin.

Các giai đoạn ung thư dạ dày

Theo kinh nghiệm thì UTDD được chia ra thành 4 giai đoạn:

  1. Giai đoạn 0 (K. institu): có tế bào bất thường ở niêm mạc dạ dày, nhưng cấu trúc niêm mạc bình thường.
  2. Giai đoạn 1 (ung thư niêm mạc): có tế bào ung thư khu trú ở niêm mạc.
  3. Giai đoạn 2 (ung thư dưới niêm mạc): có tế bào ung thư đã ăn qua lớp niêm mạc.
  4. Giai đoạn 3 (ung thư thành): tế bào ung thư đã ăn qua các lớp cơ dạ dày.

49 Ung thư dạ dày

Khi ung thư dạ dày tới giai đoạn cuối, người bệnh khó có khả năng sống sót. (Ảnh minh họa)

Chẩn đoán

a. Chẩn đoán ung thư DD giai đoạn sớm

  • Triệu chứng: đột ngột ăn khó tiêu, đau thượng vị mơ hồ âm ỉ không có chu kỳ, mệt mỏi, thiếu máu, ỉa phân lỏng….
  • Dựa vào X-quang nội soi: nếu chỉ dùng X-quang hoặc nội soi đơn thuần có thể chẩn đoán chính xác tới 83%.

Dựa vào xét nghiệm tế bào dịch vị, sinh thiết

  • Nếu tế bào dịch vị (-), sinh thiết (-) không loại trừ Ung thư dạ dày khi X-quang và nội soi chỉ rõ là ung thư.
  • Nếu X-quang, nội soi chưa khẳng định chắc chắn, sinh thiết và tế bào dịch vị âm tính cần điều trị thử như phương pháp của Guttman vận dụng: Atropin + Hydroxyt nhôm hoặc Mg + an thần (kinh điển: Bismuth + Atropin + Lanistin hoặc Oxyfericarbon). Tây Âu dùng Cimetidin sau 2-3 tháng theo dõi diễn biến điều trị.

Cơ năng

X-quang

Khả năng chẩn đoán

Thái độ điều trị

Hết hẳn Mất hẳn Chắc chắn lành tính Nội khoa
Hết hẳn Chỉ bớt Có thể lành tính Nội khoa, theo dõi
Hết hẳn Không thay đổi Nghi ác tính Cần xét mổ
Không bớt Không đổi Rât nghi ác tính Nên mổ
Hết hoặc còn Tăng lên Chắc chắn ác tính Phải phẫu thuật

 b. Chẩn đoán ung thư dạ dày giai đoạn muộn (giai đoạn 3):

Giai đoạn này chẩn đoán dễ nhưng điều trị rất khó.

Chẩn đoán dựa vào:

  • Khối u thượng vị không di động (do dính gan, tuỵ, đại tràng).
  • Đã di căn hạch Troisier.
  • X-quang, nội soi dạ dày hoặc SOB loại trừ ung thư gan, tuỵ mạc treo.
  • Sinh thiết tổ chức di căn (hạch, gan).

Theo Viangp.vn